hội chứng demon meig
Hội chứng Meig's. Thận ứ nước (Hydronephrosis). Thẫm phân phúc mạc. Tắc tĩnh mạch chủ trên. Thuyên tắc phổi. Hội chứng Demon Meigs tràn dịch màng phổi: tràn dịch màng phổi màu vàng chanh và có u nang buồng trứng. Cắt bỏ u nang buồng trứng, dịch sẽ hết.
Frauen Kennenlernen Ohne Geld Zu Bezahlen. Báo cáo ca lâm sàng một ca ung thư buồng trứng di căn từ ung thư vú có hội chứng giả Meigs. TÓM TẮT Một phụ nữ 54 tuổi tràn dịch màng phổi kéo dài và bị cổ trướng do khối u buồng trứng 2 bên. Bệnh nhân đã trải qua một cuộc phẫu thuật vú bảo tồn và nạo hạch nách do ung thư vú bên trái vào tháng 10/2000, sau đó phát triển tràn dịch màng phổi bên trái vào tháng 7/2006. Xét nghiệm tế bào học của dịch màng phổi không tìm thấy tế bào ác tính. Bệnh nhânđược dẫn lưu màng phổi nhưng thất bại trong việc kiểm soát tràn dịch. Chụp PET cho thấy có khối u buồng trứng 2 bên. Sau khi thất bại trong việc kiểm soát báng bụng bằng hóa trị hệ thống và hóa trị trong ổ bụng, phẫu thuật cắt buồng trứng 2 bên được thực hiện. Nồng độ marker ung thư trở về bình thường và không còn cổ trướng và tràn dịch màng phổi. Giaỉ phẫu bệnh khối u cho thấy các khối u có những thụ thể estrogen từ khối ung thư vú của BN. Bệnh nhân không có tái phát thêm sau 40 tháng điều trị bằng chất ức chế aromatase. GIỚI THIỆU Hội chứng Meigs đặc trưng bởi cổ trướng và tràn dịch màng phổi liên quan với các khối u buồng trứng lành tính như u xơ, u tế bào vỏ, u Brenner, u tế bào hạt. Các triệu chứng của nó thường biến mất sau khi loại bỏ các khối u buồng trứng. Hội chứng Pseudo-Meigs giả Meigs được định nghĩa như là một hội chứng trong đó cho thấy các triệu chứng tương tự hội chứng Meigs nhưng ở bệnh nhân có khối u buồng trứng ác tính. Tuy nhiên, hội chứng pseudo Meigs từ ung thư vú cực kỳ hiếm và tiên lượng rất nghèo nàn một khi triệu chứng lâm sàng xuất hiện. Ung thư vú thường tiến triển di căn màng phổi, đặc biệt là màng phổi cùng bên, dẫn đến tràn dịch màng phổi. Tràn dịch màng phổi cùng bên gây ra bởi hội chứng pseudo Meigs có thể gây nhầm lẫn cho các bác sĩ và làm phức tạp thêm quyết định điều trị. Chúng tôi báo cáo một trường hợp rất hiếm gặp hội chứng giả Meigs có nguồn gốc từ ung thư vú, đã được điều trị thành công bằng phẫu thuật cắt buồng trứng. CA LÂM SÀNG Một phụ nữ 54 tuổi than phiền về việc đầy bụng vào tháng 2/2009. Cô đã trải qua một cuộc phẫu thuật vú bảo tồn và nạo hạch nách do phát hiện ung thư vú trái vào tháng 10/2000, sau đó bệnh nhân bị tràn dịch màng phổi trái hình 1A vào tháng 7/2006. Dẫn lưu ngực và theo dõi bằng OK-432 thất bại trong việc kiểm soát tràn dịch, khảo sát dịch thấy không có tế bào ung thư. Bệnh nhân đã bị tràn dịch màng phổi lượng thay đổi và được điều trị ngoại trú trong 30 tháng. Hình 1 CT Ngực. A CT ngực trước khi dẫn lưu. Tràn dịch màng phổi bên trái lượng lớn làm đẩy lệch trung thất. B CT ngực sau khi phẫu thuật cắt buồng trứng 2 dịch màng phổi biến mất hoàn toàn. Bệnh nhân sau đó bị chướng bụng và gia tăng nồng độ CEA và CA 15-3 huyết thanh Hình 2. Chụp PET / CT cho thấy khối u buồng trứng 2 bên hình 3 và cổ trướng. Hóa trị hệ thống paclitaxel 80 mg/m2/tuần và hóa trị trong ổ bụng carboplatin 100 mg/m2 kèm chọc hút ổ bụng 4,000-8,500 mL đều thất bại trong việc kiểm soát cổ trướng. Phẫu thuật cắt buồng trứng 2 bên được thực hiện để cung cấp một chẩn đoán xác định khối u buồng trứng và trên cơ sở đó có thể đưa ra gợi ý điều trị để kiểm soát cổ trướng. Buồng trứng phải và trái nặng lần lượt là 15 và 250 g khối u bên trái, phân thùy. Khảo sát tế bào học không thấy gieo rắc khối u trong trong ổ bụng và dịch báng không chứa tế bào ung thư. Khảo sát giải phẫu bệnh cho thấy các khối u được cấu tạo bởi các cấu trúc vững chắc và cấu trúc dạng ống Hình 4A đồng thời dương tính với thụ thể estrogen Hình 4B, thụ thể progesterone, cytokeratin CK -7, và protein-15 hình 4C , và âm tính với HER2 và CK20. Những biểu hiện giải phẫu bệnh lý này cho rằng các khối u buồng trứng có nguồn gốc từ bệnh ung thư vú của bệnh nhân. Hình 2 Nồng độ CEA và CA 15-3 trong máu. Nồng độ CEA và CA 15-3 giảm mạnh trong giới hạn trên bình thường sau khi cắt buồng trứng 2 bên. Hình 3 CT vùng chậu lúc bệnh nhân chướng bụng cho thấy một khối lớn mũi tên và dịch báng trong khoang chậu. Hình 4 Giải phẫu bệnh. A khối u đã được cấu tạo bởi các cấu trúc vững chắc và cấu trúc dạng ống nhuộm H & E × 100. B khối u giàu thụ thể estrogen giàu thụ thể hóa mô miễn dịch, × 100. C protein-15 dương tính mạnh, đặc biệt tại vùng ống tuyến của khối hóa mô miễn dịch, × 100 Bệnh nhân được xuất viện sau 9 ngày hậu phẫu. Tràn dịch màng phổi bên trái biến mất Hình 1B và nồng độ huyết thanh CEA và CA 15-3 giảm xuống dưới giới hạn trên bình thường Hình 2. Bệnh nhân tiến triển tốt bằng liệu pháp điều trị ức chế men aromatase và sau phẫu thuật hơn 40 tháng, vẫn chưa phát hiện tái phát. THẢO LUẬN Nguyên nhân của cổ trướng và tràn dịch màng phổi trong hội chứng Meigs vẫn chưa rõ ràng. Meigs đề nghị rằng các khối u buồng trứng cứng có thể gây kích ứng phúc mạc và kích thích việc sản xuất các dịch trong ổ bụng. Abramov và cộng sự cho rằng các cytokine viêm nhiễm như interleukin IL -6, IL-1β, và IL-8 đóng một vai trò quan trọng trong sự hình thành của cổ trướng và tràn dịch màng phổi trong hội chứng Meigs. Nguyên nhân phổ biến nhất của tràn dịch màng phổi được cho là liên quan đến sự di chuyển của dịch báng từ khoang ngực thông qua hệ thống bạch huyết xuyên cơ hoành. Tuy nhiên, trong trường hợp này do sự xuất hiện của tràn dịch màng phổi trước cổ trướng, chúng tôi không thể xác nhận nguyên nhân của tràn dịch màng phổi trong ca này. Tiên lượng của ung thư buồng trứng di căn thường nghèo nàn. Shiromizu và cộng sự đã báo cáo tỉ lệ sống sót ở những bệnh nhân có ung thư buồng trứng di căn sau 6 tháng, 1 năm, 2 năm lần lượt là 42%, 25%, 13%, nhưng tỉ lệ sống sót đã được cải thiện đến 75%, 63%, và 25 % ở những bệnh nhân không có di căn ngoài buồng trứng sau khi phẫu thuật cắt buồng trứng. Bệnh nhân bị ung thư buồng trứng di căn thường trải qua giai đoạn giảm hoặc biến mất hoàn toàn cổ trướng và tràn dịch màng phổi sau khi phẫu thuật, và cải thiện chất lượng cuộc sống. Một số báo cáo đã gợi ý rằng tiêm thuốc chống ung thư vào trong ổ bụng có thể điều trị hiệu quả cho bệnh ung thư buồng trứng và tránh gieo rắc tế bào ung thư vào phúc mạc. Phần lớn các bệnh nhân ung thư buồng trứng di căn bị gieo rắc ung thư trong ổ bụng sau khi cắt buồng trứng, nên phải hỗ trợ bằng việc sử dụng hóa trị liệu trong ổ bụng với cắt buồng trứng khi có thể. Tuy nhiên, ở bệnh nhân này trước khi phẫu thuật, việc hóa trị liệu hệ thống và hóa trị liệu trong ổ bụng không thể kiểm soát cổ trướng, và do đó chúng tôi đã không thể rút ra bất kỳ kết luận nào về tầm quan trọng về mặt lâm sàng của hóa trị liệu trong ổ bụng. Ung thư vú thường di căn phổi, xương, gan, và não, nhưng buồng trứng không phải là cơ quan đích thường gặp do di căn từ ung thư vú. Tuy nhiên, ung thư vú là nguyên nhân hàng đầu của ung thư buồng trứng do di căn ngoài ổ bụng. Thật không may, sự hiện diện của tràn dịch màng phổi cùng bên trong trường hợp này được hiểu sai là bị gây ra bởi ung thư màng phổi di căn từ ung thư vú, mặc dù thiếu các nốt màng phổi rõ ràng trên CT. Điều này có vẻ thích hợp để giải thích tràn dịch màng phổi và cổ trướng trong trường hợp này gây ra bởi hội chứng giả Meigs vì sự vắng mặt của các tế bào ác tính trong dịch màng phổi và dịch báng. Ung thư vú di căn thường được điều trị theo phác đồ Hortobagyi, nhằm mục đích giảm triệu chứng, kéo dài thời gian sống sót có thể, chứ không phải là để chữa khỏi hoàn toàn. Tuy nhiên, khả năng chữa khỏi bằng phương pháp điều trị đa mô thức có thể được áp dụng cho các bệnh nhân ung thư vú di căn ít. Mặc dù trong trường hợp này lượng di căn là khá lớn, phẫu thuật can thiệp vào buồng trứng có vẻ như là một biện pháp khả thi bởi vì không có tế bào ung thư được phát hiện trong dịch màng phổi hoặc dịch cổ trướng. Kết luận ở bệnh nhân có khối ung thư buồng trứng di căn từ ung thư vú này, việc phẫu thuật cắt buồng trứng đã làm thuyên giảm bệnh cho tới nay đã hơn 40 tháng và đây là trường hợp đầu tiên hội chứng pseudo-Meigs được điều trị thành công. Do đó, bác sĩ chuyên khoa ung thư vú nên xem xét việc cắt buồng trứng ở những bệnh nhân có hội chứng giả Meigs không có di căn ngoài buồng trứng. Nguồn References 1. Meigs JV, Cass JW. Fibroma of the ovary with ascites and hydrothorax. Am J Obstet Gynecol. 1937;33249–267. 2. Rhoads JE, Terrell AW. Ovarian fibroma with ascites and hydrothorax Meigs’s syndrome report of a case. JAMA. 1937;1091684–1687. 3. Meigs JV, Armstrong SH, Hamilton HH. A further contribution to the syndrome of fibroma of the ovary with fluid in the abdomen and chest, Meigs’ syndrome. Am J Obstet Gynecol. 1943;4619–37. 4. Meigs JV. Pelvic tumors other than fibromas of the ovary with ascites and hydrothorax. Obstet Gynecol. 1954;3471–486. [PubMed] 5. Fujii M, Okino M, Fujioka K, Yamashita K, Hamano K. Pseudo-Meigs’ syndrome caused by breast cancer metastasis to both ovaries. Breast Cancer. 2006;13344–348. [PubMed] 6. Kawakubo N, Okido M, Tanaka R, Mitsugi K, Fukuhara M, Aishima S, et al. Pseudo-Meigs’ syndrome associated with breast cancer metastasis to both ovaries report of a case. Surg Today. 2010;401148–1151. [PubMed] 7. O’Flanagan SJ, Tighe BF, Egan TJ, Delaney PV. Meigs’ syndrome and pseudo-Meigs’ syndrome. J R Soc Med. 1987;80252–253. [PMC free article] [PubMed] 8. Abramov Y, Anteby SO, Fasouliotis SJ, Barak V. The role of inflammatory cytokines in Meigs’ syndrome. Obstet Gynecol. 2002;99917–919. [PubMed] 9. Gagnon Y, Têtu B. Ovarian metastases of breast carcinoma. A clinicopathologic study of 59 cases. Cancer. 1989;64892–898. [PubMed] 10. Shiromizu K, Kawana T, Sugase M, Izumi R, Mizuno M. Experience with the treatment of metastatic ovarian carcinoma. Arch Gynecol Obstet. 1988;243111–114. [PubMed] 11. Tsubono M, Kaneko I, Kii E, Tanaka T, Murata T, Kamimura K, et al. Weekly paclitaxel administration and intraabdominal CBDCA injection possibly beneficial treatment for recurrent breast cancer associated with metastatic ovarian cancer and peritoneal dissemination after operation a case report. Gan To Kagaku Ryoho. 2005;32365–369. [PubMed] 12. Ishibashi M, Nakayama K, Oride A, Yeasmin S, Katagiri A, Iida K, et al. A case of PEPBEP-resistant ovarian dysgerminoma successfully treated by VeIP therapy. Gan To Kagaku Ryoho. 2009;36513–517. [PubMed] 13. Hortobagyi GN. Treatment of breast cancer. N Engl J Med. 1998;339974–984. [PubMed] 14. Hortobagyi GN. Can we cure limited metastatic breast cancer? J Clin Oncol. 2002;20620–623. [PubMed] 15. Singletary SE, Walsh G, Vauthey JN, Curley S, Sawaya R, Weber KL, et al. A role for curative surgery in the treatment of selected patients with metastatic breast cancer. Oncologist. 2003;8241–251.
TÓM TẮT U sợi/u sợi – vỏ bào buồng trứng là u có nguồn gốc dây giới bào, ca lâm sàng về dạng u này thường hiếm gặp, chiếm tỉ lệ 4% các tân sinh buồng trứng. Hội chứng Demons Meigs là hội chứng rất hiếm gặp 1-2% trong tổng số các u sợi/ u sợi-vỏ bào buồng trứng gồm khối u lành buồng trứng, kèm tràn dịch ổ bụng và tràn dịch màng phổi. Tuy hiếm gặp, nhưng trong khoảng 5 năm trở lại đây chúng tôi lại gặp nhiều ca u sợi vỏ bào buồng trứng hơn so trước đây với những bệnh cảnh lâm sàng đặc biệt khác nhau. Ở báo cáo này chúng tôi lựa ra 5 ca đại diện với tình huống lâm sàng khác nhau để trình bày. Hai ca đầu là hội chứng Demons Meigs, 1 bệnh nhân 70 tuổi với u buồng trứng phải nhỏ, tràn dịch màng phổi, màng tim, màng bụng lượng nhiều và 1 bệnh nhân 48 tuổi kèm u buồng trứng trái to. Ca thứ 3 được ghi nhận với bệnh cảnh lâm sàng đau bụng cấp có dấu hiệu tắc ruột kèm khối u đặc buồng trứng trái nghi xoắn ở bệnh nhân 35 tuổi. Ca thứ 4 với bệnh cảnh đau bụng cấp nghĩ nhân xơ tử cung dưới thanh mạc thoái hóa ở bệnh nhân 30 tuổi. Và ca cuối cùng với bệnh cảnh lâm sàng là xuất huyết âm đạo sau mãn kinh ở bệnh nhân 75 tuổi có bệnh lý nền là xơ gan, báng bụng, u buồng trứng trái to. Như vậy, u sợi/ u sợi- vỏ bào buồng trứng ít gặp, bệnh cảnh lâm sàng không đặc hiệu, đôi lúc khó khăn trong phân biệt với bệnh cảnh ung thư nhưng tiên lượng tốt, phương pháp điều trị là phẫu thuật cắt bỏ khối u. Hội chứng Demons- Meigs tuy hiếm gặp nhưng không nên bị bỏ sót vì cách giải quyết tốt nhất là phẫu thuật cắt bỏ khối u buồng trứng. GIỚI THIỆU U sợi/ u sợi- vỏ bào buồng trứng là khối u buồng trứng lành tính, hiếm gặp, chiếm khoảng 4% các tân sinh buồng trứng và có nguồn gốc dây giới bào, gồm u sợi, u sợi- vỏ bào, u vỏ bào tùy theo tỉ lệ của các nguyên bào sợi và tế bào vỏ bào phân bố trong u để gọi tên 1. U sợi bào gồm chủ yếu là các nguyên bào sợi, không có vỏ bào. Còn u sợi-vỏ bào và u vỏ bào thì tùy tỉ lệ vỏ bào chiếm nhiều hay ít để gọi tên. Chẩn đoán chính xác trước mổ thường khó vì đây là u buồng trứng ít gặp, lâm sàng không điển hình, hình ảnh dễ chẩn đoán nhầm với u xơ tử cung dưới thanh mạc, không có dấu ấn sinh học u nào đặc hiệu. Ngoài ra, do là khối u đặc, có thể kèm CA125 tăng và tràn dịch ổ bụng, tràn dịch màng phổi, hay gặp ở bệnh nhân sau mãn kinh nên có thể nhầm lần với ung thư biểu mô buồng trứng. Khoảng 1% bệnh nhân u sợi/ u sợi- vỏ bào có thể đi kèm hội chứng Demons Meigs. Hội chứng Demons Meigs được mô tả đầu tiên vào năm 1937 bởi Meigs và Cassa, gồm tam chứng là khối u lành buồng trứng thường gặp là u sợi/ u sợi-vỏ bào buồng trứng, u Brenner, u tế bào hạt, tràn dịch ổ bụng và tràn dịch màng phổi; tình trạng này sẽ dần biến mất sau khi cắt bỏ khối u 2. Cơ chế tràn dịch của hội chứng này đến nay vẫn chưa được hiểu rõ. Gải phẫu bệnh sau mổ vẫn là tiêu chuẩn vàng. Hầu hết u sợi/ u sợi-vỏ bào buồng trứng có thể chẩn đoán bằng nhuộm HE. Tuy nhiên, một số trường hợp vẫn cần làm thêm hóa mô miễn dịch. Vimentin thường dương tính cao trong u sợi-vỏ bào còn tỉ lệ dương tính với α-inhibin là calretinin là % 3. Đặc điểm đại thể khối u buồng trứng với bề mặt trơn láng, thường không bị vỡ. Khi cắt ngang qua bề mặt buồng trứng sẽ thấy mật độ cứng, màu trắng hay vàng nhạt, có thể có vài chỗ thoái hóa dạng nang hoặc phù nhất là khi u to, hoặc rải rác có những chỗ hoại tử nếu u bị xoắn. Đặc điểm vi thể các tế bào hình thoi, nhân hình trứng, ít bào tương; các tế bào hợp với nhau thành bó hay dạng xoắn, vôi hóa canxi rải rác hay lan tỏa. Phương pháp là phẫu thuật cắt bỏ khối u. Tiên lượng tốt. TRÌNH BÀY CA LÂM SÀNG Case 1 Hội chứng Demons Meigs Bệnh nhân 48 tuổi, para 1011, mãn kinh, đi khám vì đau bụng hạ vị. Chưa ghi nhận tiền căn phẫu thuật vùng chậu. Lần đi khám phụ khoa gần đây là 6 tháng trước, chưa ghi nhận bất thường. Cách nhập viện 1 ngày, bệnh nhân đột ngột thấy đau bụng âm ỉ vùng hạ vị nên đi khám, được chẩn đoán nhân xơ tử cung thoái hóa gây đau nên được nhập viện. Tình trạng nhập viện, sinh hiệu ổn, khám bụng mềm, ấn đau vùng hạ vị, lệch trái. Khám tử cung to khoảng tử cung có thai 20 tuần, 2 phần phụ khó xác định. Siêu âm hình 1 tử cung đường kính trước sau 99 mm, dưới thanh mạc thành sau thân có nhân xơ phản âm kém, không đồng nhất, kích thước 153x 84 mm, có vùng hóa dịch; hai buồng trứng không thấy; ít dịch túi cùng, dịch không đồng nhất. Kết luận nhân xơ tử cung to dưới thanh mạc, nghi có thoái hóa trong nhân xơ. Xquang ngực thẳng hình 2, trước mổ tổn thương thâm nhiễm đáy phổi trái, tràn dịch màng phổi trái lượng ít. Hình 3 Xquang ngực thẳng sau mổ MRI vùng chậu hình 4 Tử cung bị đẩy ra trước, đường kính trước sau 2cm, dài 9 cm, cơ tử cung không tổn thương khu trú; buồng trứng phải teo nhỏ; buồng trứng trái không thấy; hiện diện khối phía sau bên trái tử cung, kích thước 85x136x140 mm, cấu trúc chủ yếu là mô đặc, tín hiệu không đồng nhất, thấp trên T1W, thấp hoặc cao nhẹ trên T2W, đường cong bắt thuốc type 1; ít dịch tự do vùng chậu. Kết luận hÌnh ảnh gợi ý khối u đặc, lành tính của buồng trứng, nghĩ nhiều u vỏ sợi. CA125 288,3 U/ml, HE4 35,61% Bệnh nhân được mổ hở, ghi nhận ổ bụng có khoảng 100 ml dịch vàng trong vùng chậu lấy dịch làm cell-bock; Tử cung và phẩn phụ phải bình thường; buồng trứng trái có khối u kích thước 20x10x 12 cm, bề mặt trơn láng, màu trắng, dạng đặc, không xoắn; bề mặt gan, phúc mạc, ruột chưa ghi nhận bất thường đại thể. Tiến hành cắt phần phụ trái gởi sinh thiết tức thì kết quả u sợi vỏ bào. Hình 5 Kết quả cell-block hiện diện các đám tế bào có nhân không điển hình, đề nghị nhuộm hóa mô miễn dịch CEA-, Vimentin+, Calretinin+, kết luận tế bào trung mạc phản . Kết quả giải phẫu bệnh thường qui hình 6 u sợi-vỏ bào buồng trứng tăng sản sợi ở mô đệm buồng trứng hợp thành bó hình xoáy lốc kèm tăng sản vỏ bào, có nơi thoái hóa bọc hóa canxi Hình 1 – Hình 2 – Hình 3 Hình 4 Hình 5 – Hình 6 Case 2 Hội chứng Demons Meigs Bệnh nhân nữ 70 tuổi, PARA 5005, nhập viện vì khó thở. Tiền căn có đái tháo đường type 2 đang điều trị, chưa ghi nhận tiền căn xơ gan, ung thư, u buồng trứng, u xơ tử cung. Cách nhập viện khoảng 2 tháng, bệnh nhân thấy bụng nặng và to dần, kèm phù chân. Sau đó, thấy khó thở nhiều, ho đàm vàng, ăn khó tiêu, đau bụng âm ỉ nên nhập viện. Tình trạng nhập viện Bệnh nhân sinh hiệu ổn, tổng trạng gầy, ghi nhận hội chứng 3 giảm 2 đáy phổi; tim không âm thổi, không tiếng cọ màng ngoài tim; báng bụng nhiều, gõ vang thượng vị và hạ sườn trái; phù 2 chân nhiều, tím lạnh đầu ngón chân, mạch mu chân và mạch chày sau bắt được nhẹ. Khám tử cung và 2 phần phụ chưa ghi nhận bất thường. Siêu âm cho thấy tràn dịch màng bụng lượng nhiều, tràn dịch màng phổi 2 bên, tràn dịch màng tim lượng trung bình. Xquang ngực thẳng ghi nhận tràn dịch màng phổi 2 bên, bóng tim to, không tổn thương nhu mô phổi 24/8/2018; sau đó diễn tiến thâm nhiễm 1/3 dưới phổi phải và toàn bộ phổi trái, tràn dịch màng ngoài tim, tràn dịch màng phổi trái nhiều hơn bên phải 25/8/2018; Bệnh nhân được chọc dẫn lưu màng phổi 2 bên và chọc dịch màng tim; sau chọc dịch ghi nhận xẹp thùy dưới phổi trái, tràn dịch màng phổi 2 bên, bóng tim không to 4/9/2018; và hình ảnh trở về bình thường vào ngày 31/10/2018. Hình 7,8,9 Siêu âm Doppler màu mạch máu chí dưới ghi nhận xơ vữa hệ động mạch 2 chi dưới gây hẹp trung bình động mạch chày trước 2 bên, chưa ghi nhận bất thường hệ tĩnh mạch. Siêu âm tim ghi nhận tràn dịch màng ngoài tim toàn thể lượng nhiều, chức năng tâm thu thất trái tốt EF 68% 30/8/2018, sau đó diễn tiến nặng hơn có dấu đè sụp thất phải thì tâm trương 4/9/2018; sau đó đã được chọc dịch giải áp và ổn dần. Mặc dù khám lâm sàng không ghi nhận khối u ở phần phụ và trên siêu âm không quan sát thấy 2 buồng trứng, nhưng trên hình ảnh CT scan ghi nhận cạnh P tử cung có khối kích thước 33x22x32mm, đậm độ mô mềm, giới hạn rõ, bờ đều, không bắt thuốc tương phản, nghĩ nhiều là u buồng trứng. Hình 10 Tumor marker 27/8/2018 AFP IU/mL CEA ng/mL CA15-3 U/mL CA 125 >600 U/mL CA19-9 U/mL Cyfra 21-1 ng/mL NSE ng/ml HE4 pmol/L Beta hCG 600; U/ml với case 1,2,3,5. Theo một nghiên cứu về giá trị của CA125 trên 580 bệnh nhân u sợi/ u sợi-vỏ bào trong 15 năm từ năm 2001 đến 2016 đã loại bỏ những trường hợp tăng CA125 do các nguyên nhân khác như có thai sớm, u xơ tử cung, u lạc nội mạc tử cung,.. ghi nhận bệnh nhân có CA125 tăng từ đến 1848 U/ml; phân tích đơn biến các yếu tố liên quan tới tăng CA 125 là kích thước u ≥ 10 cm, tràn dịch màng phổi, tràn dịch màng bụng, hội chứng Meigs; còn trong phân tích đa biến ghi nhận 2 yếu tố liên quan đó là kích thước u ≥ 10 cm và tràn dịch màng bụng 7. Cũng trong nghiên cứu này, họ còn làm hóa mô miễn dịch với CA125 ở 20 trường hợp u sợi/ u sợi-vỏ bào có tăng hoặc không tăng CA125 và 8 trường hợp nhóm chứng là bệnh nhân ung thư biểu mô buồng trứng ghi nhận kết quả âm tính ở tất cả nhóm bệnh nhân u sợi/ u sợi-vỏ bào và dương tính mạnh với kháng thể kháng CA125 ở nhóm chứng. Điều này, có lẽ phù hợp với y văn ràng nguồn gốc của CA125 trong u sợi/ u sợi- vỏ bào buồng trứng không phải từ các tế bào u buồng trứng, có thể từ các tế bào trung mô phúc mạc bị kích thích do áp lực ổ bụng tăng khi tràn dịch ổ bụng lượng nhiều hoặc do kích thước khối u to. Vai trò của sinh thiết tức thì Trong 5 ca chúng tôi báo cáo, có 3 ca được làm sinh thiết tức thì, kết quả đều chính xác với kết quả giải phẫu bệnh thường qui. Hiện các nghiên cứu đều ủng hộ vai trò của sinh thiết tức thì trong chẩn đoán với khối u buồng trứng vì độ chính xác cao, với độ nhạy, độ đặc hiệu, giá trị tiên đoán dương, giá trị tiên đoán âm trong chẩn đoán u buồng trứng lành tính lần lượt là 100%, 100% 8. Về mặt phương pháp phẫu thuật vẫn là cắt bỏ khối u. Nếu mổ hở thì việc lấy bệnh phẫm quá dễ dàng, tuy nhiên nếu mổ nội soi và khối u to thì việc có nên lấy bệnh phẩm bằng máy bào mô hay không vẫn còn tranh luận. Trong 5 trường hợp, 1 trường hợp mổ hở, 4 trường hợp còn lại mổ nội soi thì 2 trường hợp được lấy bằng máy bào mô case 3, cho bệnh phẩm vào bao lớn, bào mô cẩn thận, không làm rớt mô ra khỏi bao bệnh phẩm; case 4, có sinh thiết tức thì, sau đó bào mô, không cho vào bao bệnh phẩm, 1 trường hợp u nhỏ case 2 nên rạch da thêm 2 cm để lấy trọn khối u 3 cm, còn 1 trường hợp case 5 u to 6-7 cm, được cho vào bao bệnh phẩm, đưa qua trocar rốn và lấy bệnh phẩm bằng cách dung dao và kéo cắt lọc dần dần. Một số tác giả đề nghị không bào mô đối với khối u đặc buồng trứng nghĩ nhiều là u sợi -vỏ bào buồng trứng vì sợ nguy cơ ác tính 9. Theo FDA nguy cơ ác tính có thể hơn khi bào mô với khối sarcom cơ tử cung không được nghĩ tới. Tuy nhiên, nếu đã có sinh thiết tức thì và hình ảnh trong mô cũng như chẩn đoán trước mổ ít nghĩ khả năng ác tính và có bao bệnh phẩm lớn thì vẫn cân nhắc có thể bào mô trong bao bệnh phẩm thật cẩn thận. KẾT LUẬN U sợi-vỏ bào buồng trứng tuy hiếm gặp nhưng lại là một trong những u dạng đặc lành tính của buồng trứng hay gặp. Vì vậy, không nên bỏ sót chẩn đoán này trong chẩn đoán phân biệt trước mổ, đặc biệt nếu bệnh nhân có hội chứng Demons- Meigs đi kèm. Điều trị là phẫu thuật cắt bỏ khối u và nếu có điều kiện nên sinh thiết tức thì khối u trong lúc mổ. Đọc thêm Phẫu thuật nội soi cắt bỏ khối bướu trong hội chứng bướu quái tăng trưởng
Đại cương Tràn dịch màng phổi là tình trạng xuất hiện dịch trong khoang màng phổi nhiều hơn mức bình thường khoảng 14 ml. Chẩn đoán Chẩn đoán xác định Bệnh nhân có thể có đau ngực sườn lưng, đau tăng lên khi hít thở sâu, ho khan khi thay đổi tư thế, khó thở xuất hiện và ngày một tăng khi lượng dịch nhiều Hội chứng 3 giảm gõ đục, rung thanh mất, rì rào phế nang mất. Hình ảnh phim X-quang phổi chuẩn Tràn dịch màng phổi số lượng ít chỉ thấy góc sườn hoành tù, sớm nhất là góc sườn hoành phía sau trên phim nghiêng. Tràn dịch màng phổi trung bình thấy hình mờ đậm, đồng đều, ở 1/3 dưới phế trường, có thể thấy đường cong mà phía lõm quay lên trên đường cong Damoiseau. Tràn dịch màng phổi nhiều mờ đều quá 1/2 phổi, đẩy tim sang bên đối diện. Trong trường hợp tràn dịch màng phổi khu trú cần kết hợp siêu âm hoặc chụp cắt lớp vi tính để xác định vị trí. Chọc dò màng phổi có dịch là tiêu chuẩn vàng. Bảng 1 Phân biệt tràn dịch màng phổi dịch thấm và dịch tiết Xét nghiệm Dịch thấm Dịch tiết – Protein 30 g/l – Protein dịch màng phổi/máu 0,5 – Tỷ trọng 1014 1016 – LDH lactic dehydrogenase 200 UI – LDH dịch màng phổi/LDH huyết thanh 0,6 – Hồng cầu – Bạch cầu Thành phần > 50% lympho bào > 50% lympho bào lao, u > 50% bạch cầu đa nhân trung tính viêm cấp – pH > 7,3 5000 đv/l viêm tụy Lưu ý bệnh nhân được chẩn đoán tràn dịch màng phổi dịch tiết khi có ít nhất 1 tiêu chuẩn phù hợp với dịch tiết. Chẩn đoán nguyên nhân Dịch thấm bảng 1. Hội chứng thận hư, suy thận mạn. Xơ gan cổ trướng. Suy tim trái không hồi phục Thẩm phân phúc mạc Suy giáp Hội chứng Demon-Meigs. Suy dinh dưỡng Dịch tiết bảng 1. Do lao Do ung thư. Do nhiễm trùng phổi và màng phổi vi khuẩn, nấm, vi rút, ký sinh trùng như a míp, sán lá phổi, sán lá gan lớn. Do nghẽn tắc động mạch phổi. Do các bệnh hệ thống lupus, viêm khớp dạng thấp…. Tràn dịch màng phổi dịch màu máu dịch có màu đỏ máu, Hemoglobin dịch màng phổi/hemoglobin máu 0,5. Do chấn thương lồng ngực. Ung thư màng phổi, ung thư di căn tới màng phổi. Tai biến của các thủ thuật thăm dò màng phổi chọc dò màng phổi, sinh thiết màng phổi, Vỡ phình tách động mạch chủ ngực Bệnh Rendu O Tràn dưỡng chấp màng phổi Dịch màng phổi trắng như sữa, tái phát rất nhanh. Soi vi thể thấy những giọt mỡ. Mỡ toàn phần của dịch màng phổi 1-4 g/100 ml. Triglycerid dịch màng phổi > 110 mg%. Do chấn thương lồng ngực. Phẫu thuật lồng ngực gây lỗ dò ống ngực – màng phổi. Viêm bạch mạch do lao, giun chỉ. Do ung thư hệ lympho hoặc ung thư phế quản di căn. Các nguyên nhân Tràn dịch màng phổi thường gặp trên lâm sàng bao gồm Lao màng phổi. Viêm phổi màng phổi. Suy tim sung huyết. Ung thư. Xơ gan Điều trị tham khảo sơ đồ 1 Điều trị nội khoa Điều trị Tràn dịch màng phổi dịch thấm Điều trị bệnh nguyên phát. Chọc tháo dịch MP trong trường hợp Tràn dịch màng phổi quá nhiều gây khó thở. Điều trị Tràn dịch màng phổi dịch tiết * Điều trị triệu chứng Tràn dịch màng phổi nhiều có suy hô hấp Thở ôxy Chọc tháo dần chia làm nhiều lần, mỗi lần ≥1 lít Phục hồi chức năng hô hấp sớm và kéo dài. Tràn dịch màng phổi nhiều, tái phát nhanh do ung thư Gây dính màng phổi bằng bột talc, povidon .. Không gây dính khi tràn dịch mà phổi không nở được hoàn toàn như trong xẹp phổi, hay có kèm theo tràn dịch màng ngoài * Điều trị căn nguyên Tràn dịch màng phổi do nhiễm khuẩn phổi màng phổi đọc thêm bài hướng dẫn chẩn đoán và điều trị tràn mủ màng phổi Chọc tháo, mở màng phổi dẫn lưu sớm, kết hợp bơm rửa hàng ngày với natriclorua 0,9%. Trường hợp tràn mủ màng phổi khu trú, đã vách hóa cần tiến hành mở màng phổi dưới hướng dẫn của siêu âm màng phổi hoặc chụp cắt lớp vi tính lồng ngực. Kháng sinh dùng trong 4 – 6 tuần. Đường tiêm tĩnh mạch, liều cao, thích hợp với các vi khuẩn gây bệnh trong các trường hợp viêm màng phổi do vi khuẩn, dùng ít nhất 2 kháng sinh. Lúc đầu khi chưa có kháng sinh đồ nên dùng kháng sinh có tác dụng với vi khuẩn kỵ khí, phế cầu và các trực khuẩn Gram - amoxicilin + acid clavulanic 3-6 g/ngày hoặc cephalosporin thế hệ 3 3-6 g/ngày; dùng kết hợp với gentamycin 3-5 mg/kg/ngày tiêm bắp 1 lần hoặc amikacin 15 mg/kg/ngày tiêm bắp 1 lần. Nếu không có điều kiện có thể dùng penicilin liều cao 20-50 triệu đơn vị/ngày tuỳ theo cân nặng. Nếu dị ứng với penicilin thì dùng clindamycin. Thay đổi thuốc theo diễn biến lâm sàng và kết quả kháng sinh đồ. Điều trị các bệnh toàn thân, các ổ nhiễm trùng nguyên phát. Điều trị tràn dịch màng phổi do lao Nguyên tắc Chọc tháo hết dịch màng phổi sớm là biện pháp tốt nhất để chống dính màng phổi. Dùng thuốc chống lao tham khảo thêm phác đồ điều trị của chương trình chống lao quốc gia. Liều dùng các thuốc chống lao Streptomycin 15 mg/kg/ngày. Rifampicin 10 mg/kg/ ngày. INH 5 mg/kg/ngày. Pyrazinamid 25 mg/kg/ngày. Ethambutol 20 mg/kg/ngày. Phác đồ chống lao 2 HRZS E/4 RH. Có một số phác đồ điều trị khác cũng với nguyên tắc kết hợp 3-5 thuốc chống la Ngoài ra, còn có một số phác đồ riêng cho các trường hợp có bệnh lý gan, thận. Vitamine B6 25 mg/ngày phòng biến chứng thần kinh của INH. Kiểm tra mắt thị lực, thị trường, sắc giác trước khi điều trị và khi có bất thường trong quá trình điều trị. Kiểm tra chức năng gan, thận 2 lần trong tháng đầu tiên rồi mỗi tháng 1 lần cho đến khi kết thúc điều trị. Lưu ý kiểm tra lại chức năng gan, thận ngay khi có biểu hiện bất thường vàng da, vàng mắt, mệt mỏi, nôn, chán ăn, . Phát hiện các tác dụng phụ khác của thuốc nhìn mờ, đau khớp, chóng mặt. Phục hồi chức năng Tập thở, thổi bóng, tập các động tác làm giãn nở lồng ngực bên bị bệnh sớm và kéo dà Điều trị Tràn dịch màng phổi do các căn nguyên khác Tuỳ theo căn nguyên. Trong tràn dưỡng chấp màng phổi ngoài trường hợp can thiệp ngoại khoa được thì việc điều trị chủ yếu là chế độ ăn hạn chế Điều trị dự phòng dính màng phổi và các trường hợp Tràn dịch màng phổi đã vách hoá Chọc tháo sớm và chọc tháo hết dịch màng phổi là biện pháp tốt nhất để phòng vách hoá và dính màng phổi. Khi đã xuất hiện Tràn dịch màng phổi vách hoá, nếu có điều kiện có thể tiến hành Bơm streptokinase 000 – đơn vị x 1 lần /ngày vào khoang màng phổi, sau đó kẹp ống dẫn lưu 2-4 giờ, rồi mở ống dẫn lưu hút liên tục. Không bơm streptokinase sau 6 ngày kể từ lần bơm đầu tiên. Sau khi dùng streptokinase phải đưa cho bệnh nhân thẻ có ghi rõ việc đã dùng streptokinase để lần khác nếu có chỉ định dùng lại thuốc tiêu sợi huyết thì không dùng streptokinase nữa mà dùng loại thuốc khác phòng tai biến dị ứng Nội soi khoang màng phổi để phá bỏ các vách ngăn, bóc dính màng phổi Điều trị ngoại khoa Phẫu thuật bóc màng phổi, ổ cặn màng phổi trong trường hợp viêm dày màng phổi sau một tháng điều trị nội khoa tích cực không giải quyết được. Cắt bỏ u nang buồng trứng trong hội chứng Demon-Meig Lấy dị vật như mảnh đạn nằm cạnh màng phổi. Thắt ống ngực trong trường hợp tràn dưỡng chấp màng phổi do vỡ, tắc ống ngực. Tài liệu tham khảo Bartter T., Santarelli R., Akers et al. 1994, “The evaluation of pleural effusion”, Chest, 106 4; Broaddus C., Light 2010, “Pleural Effusion”, Murray and Nadels Textbook of Respiratory Medicine, 5th ed, Saunder, Elsevier. Foster C. et al. 2010, “Pleural effusion”, The Washington Manual of Medical Therapeutics, 33rded, Lippincott Williams & Wilkins; 334. Light W., Macgregor Luchsinger et al. 1972, ”Pleural effusions the diagnostic separation of transudates and exudates”, Ann Intern Med, 77 4; Light W. 2007, “Pleural Diseases”, 5th ed, Lippincott Williams & Wilkins. Mayse L., Sahn 2008, “Disorders of pleural space”, Fishmans Pulmonary Diseases and Disorder, 4th ed, McGraw- Hill,
Ống nghe y khoa ProCardial series MD One series Acoustica series Basic series Máy đo huyết áp Phụ kiện y khoa Búa phản xạ Đèn soi đồng tử Màng nghe sử dụng 1 lần Hộp đựng ống nghe Kiến tạo sức khỏe Góc tư vấn Liên hệ Menu 0 0 Ống nghe y khoa ProCardial series MD One series Acoustica series Basic series Máy đo huyết áp Phụ kiện y khoa Búa phản xạ Đèn soi đồng tử Màng nghe sử dụng 1 lần Hộp đựng ống nghe Kiến tạo sức khỏe Góc tư vấn Liên hệ Loading... Góc tư vấn Công ty TNHH Thiết bị y tế Medjin - Địa chỉ Số 14, ngõ 72, Tôn Thất Tùng, Đống Đa, Hà Nội - VP giao dịch Số 5, ngõ 59, Chùa Bộc, Đống Đa, Hà Nội - Chi nhánh Hải Phòng Số 68, ngõ 201, Lạch Tray, Ngô Quyền, Hải Phòng Email mdfinstrumentsvn Giới thiệu chung Tuyên ngôn Trung tâm phân phối toàn cầu Đăng ký bảo hành trọn đời Đăng ký thay phụ kiện miễn phí Chính sách bảo mật Chính sách vận chuyển Kiểm tra sản phẩm chính hãng Bản quyền thuộc công ty TNHH thiết bị y tế MedJin Gửi thông tin thành công
Hội chứng Meigs là một bệnh hiếm gặp được đặc trưng bởi tam chứng bao gồm khối u buồng trứng lành tính, cổ chướng, và tràn dịch màng phổi. Ở phụ nữ mãn kinh xuất hiện tràn dịch màng phổi, cổ chướng, CA125 tăng cao, và khối phần phụ có tỷ lệ cao là tổn thương ác tính. Mặc dù vậy, chẩn đoán cuối cùng dựa trên mô bệnh học sau mổ. Hội chứng Meigs cần được phân biệt trong những trường hợp này. Trong bài viết này, chúng tôi trình bày trường hợp bệnh nhân 56 tuổi, nhập viện với một khối vùng chậu, tràn dịch màng phổi, cổ chướng, và nồng độ CA125 tăng cao. Bệnh nhân sau đó được phẫu thuật cắt bỏ phần phụ bên tổn thương, kết quả giải phẫu bệnh là u xơ buồng trứng. To read the full-text of this research, you can request a copy directly from the has not been able to resolve any citations for this HouLi PengMei ZhouBackground Meigs syndrome is a rare neoplastic disease characterized by the triad of benign solid ovarian tumor, ascites, and pleural effusion. In postmenopausal women with pleural effusions, ascites, elevated CA-125 level, and pelvic masses, the probability of disseminated disease is high. Nevertheless, the final diagnosis is based on its histopathologic features following surgical removal of a mass lesion. Here we describe a case of Meigs syndrome with pleural effusion as the initial manifestation. Case summary A 52-year-old woman presented with a 2-mo history of dry cough and oppression in the chest and was admitted to our hospital due to recurrent pleural effusion and gradual worsening of dyspnea that had occurred over the previous month. Two months before admission, the patient underwent repeated chest drainage and empirical anti-tuberculosis treatment. However, the pleural fluid accumulation persisted, and the patient began to experience dyspnea on exertion leading to admission. A computed tomography scan of the chest, abdominal ultrasound, and magnetic resonance imaging confirmed the presence of right-sided pleural effusion and ascites with a right ovarian mass. Serum tumor markers showed raised CA-125. With a suspicion of a malignant tumor, the patient underwent laparoscopic excision of the ovarian mass and the final pathology was consistent with an ovarian fibrothecoma. On the seventh day postoperation, the patient had resolution of the right-sided pleural effusion. Conclusion Despite the relatively high risk of malignancy when an ovarian mass associated with hydrothorax is found in a patient with elevated serum levels of CA-125, clinicians should be aware about rare benign syndromes, like Meigs, for which surgery remains the preferred treatment. Hyuna SungJacques FerlayRebecca L. SiegelFreddie BrayThis article provides an update on the global cancer burden using the GLOBOCAN 2020 estimates of cancer incidence and mortality produced by the International Agency for Research on Cancer. Worldwide, an estimated million new cancer cases million excluding nonmelanoma skin cancer and almost million cancer deaths million excluding nonmelanoma skin cancer occurred in 2020. Female breast cancer has surpassed lung cancer as the most commonly diagnosed cancer, with an estimated million new cases followed by lung colorectal %, prostate and stomach cancers. Lung cancer remained the leading cause of cancer death, with an estimated million deaths 18%, followed by colorectal liver stomach and female breast cancers. Overall incidence was from 2-fold to 3-fold higher in transitioned versus transitioning countries for both sexes, whereas mortality varied <2-fold for men and little for women. Death rates for female breast and cervical cancers, however, were considerably higher in transitioning versus transitioned countries vs per 100,000 and vs per 100,000, respectively. The global cancer burden is expected to be million cases in 2040, a 47% rise from 2020, with a larger increase in transitioning 64% to 95% versus transitioned 32% to 56% countries due to demographic changes, although this may be further exacerbated by increasing risk factors associated with globalization and a growing economy. Efforts to build a sustainable infrastructure for the dissemination of cancer prevention measures and provision of cancer care in transitioning countries is critical for global cancer E. RHOADSALEXANDER W. TERRELLFibroma of the ovary, an uncommon tumor, may rarely be associated with hydrothorax as well as with ascites. The knowledge that this association of pleural effusion with a benign pelvic tumor exists is extremely important from the standpoint both of prognosis and of treatment, since most pelvic tumors causing pleural effusion are malignant and the effusion is the result of pleural or pulmonary metastasis. In the presence of massive pleural effusion it may at times be impossible, even after partial aspiration, to exclude the presence of pulmonary metastasis by x-ray examination. We feel, then, that in these instances the occurrence of hydrothorax with a pelvic tumor justifies abdominal exploration and promises substantial hope of recovery in a considerable group in which the prognosis was previously regarded as Meigs and Cass1 reported a series of seven cases presenting the syndrome of fluid in the chest in association withCancer antigen-125 CA-125 is not a specific tumor marker and it is synthesized by normal and malignant cells of different origins. Recently it has been shown that various diseases are associated with increased CA-125 levels, especially in the presence of serosal fluid. The aim of this study is to investigate serum and fluid CA-125 levels in patients with different diseases. A total of 133 patients and 23 healthy control cases were included in the study and divided into eight groups on the basis of disease and the presence of fluid in the serosal cavities. Serum and serosal fluid CA-125 levels were measured by a commercial enzyme immunoassay kit at the same time. Comparisons among the groups were made. Abnormal levels of serum CA-125 were observed in 76% of ovarian cancer patients; 96% in patients with ascites and 56% in patients without ascites. Moreover, elevated serum CA-125 levels were detected in 52% of patients with hepatic diseases, in 100% of patients with nongynecologic peritoneal carcinomatosis, and in 87% of patients with pleural effusion. Serum and fluid CA-125 levels were significantly higher in cases of ovarian cancer with ascites than in the other groups P < A positive correlation between serum CA-125 levels and ascites amounts was observed in cases of ovarian cancer with ascites P < r = Furthermore, no correlation was observed between ovarian mass volume and serum CA-125 levels in ovarian cancer patients with stage I disease without ascites P = r = Although CA-125 levels may be considered a sensitive tumor marker in patients with epithelial ovarian cancer, it was determined that high serum CA-125 levels were closely related to the presence of serosal fluids and serosal involvement, whatever the origin is. These results should be considered in the interpretation of CA-125 elevation in patients with ovarian and practice of gynecologic oncologyCatheryn M YasharYashar, Catheryn M. Principle and practice of gynecologic oncology. Seventh ed; Wolters Kluwer; 2017; fibroma-clinical and histopathological characteristicsV SivanesaratnamR DuttaP JayalakshmiSivanesaratnam V, Dutta R, Jayalakshmi P. Ovarian fibroma-clinical and histopathological characteristics. Int J Gynaecol Obstet. 1990 Nov;333243-7. doi 90009-a. PMID 1977643.
hội chứng demon meig